Q7 Riverside Complex Đào Trí,

Hạn chế nhiệt điện than: một bước lùi, hai bước tiến

Hạn chế nhiệt điện than: một bước lùi, hai bước tiến

(Hungthinhland) – Cuối quí I năm nay, Chính phủ đã ra quyết định điều chỉnh Quy hoạch điện VII hiện hành theo hướng giảm tỷ lệ các nhà máy nhiệt điện than, tăng tỷ lệ các dự án năng lượng tái tạo. Nhưng những hệ lụy từ các dự án nhiệt điện than bắt đầu hiện rõ hon nữa trong thời gian gần đây, đặt ra câu hỏi: Liệu có thể tiếp tục giảm sâu hơn các dự án diện thạn, cho dù tốc độ tăng nhu cầu sử dụng điện ở phía Nam từ năm 2017, 2018 trở đi càng trở nên căng thẳng?

Khó nhưng vẫn có thể giải từng đoạn bài toán nhiệt điện

Tổng sơ đồ điện VII ban đầu đặt ra mục tiêu 57 dự án nhiệt điện than. Tuy nhiên, quy hoạch ngành than đến 2020, có xét đến 2030 cho thấy sức ép than nhập khẩu là rất lớn (20-30 triệu tấn/năm) chứa đựng nhiều rủi ro. Cộng với những ảnh hưởng về môi trường, việc tham gia các công ước quốc tếvề cắt giảm khí thải… đã dẫn đến việc tổng sơ đồ điện VII được điều chỉnh theo hướng giảm 18 nhà máy điện than.

Một dự án điện gió ở Ninh Thuận.

Một dự án điện gió ở Ninh Thuận.

Chính phủ cũng yêu cầu phát triển các nhà máy nhiệt điện theo tỷ lệ thích hợp, phù hợp với khả năng cung cấp và phân bổ các nguồn nhiên liệu. Bên cạnh đó, khuyến khích các nguồn năng lượng tái tạo (NLTT).

Nguồn năng lượng sơ cấp của Việt Nam phân bố không đều, các mỏ than đều tập trung ở phía Bắc, khu vực Quảng Ninh, trữ lượng khí đốt tập trung ở thềm lục địa khu vực Đông và Tây Nam bộ. Nhưng nhu cầu tiêu thụ điện lớn lại tập trung ở phía Nam (50% tổng nhu cầu tiêu thụ điện cả nước; 40% ở phía Bắc và khoảng trên 10% ở miền Trung).

Vấn đề đặt ra ở đây là năm dự án nhiệt điện than ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với công suất 4.000 MW đã được loại bỏ (Kiên Giang, Sông Hậu 3 và An Giang). Nay lại điều chỉnh tăng thêm ba dự án Tân Phước 1, Tân Phước 2 (Tiền Giang) và Long An. Điều này có nên không và có cách nào tiếp tục giảm các dự án nhiệt điện than và chuyển hướng đầu tư sang các dự án NLTTP?

Một chuyên gia năng lượng kỳ cựu nói với TBKTSG rằng, các dự án nhiệt điện đã và đang đầu tư theo tiến độ đưa vào vận hành đến năm 2020 thì không thể trì hoãn được. Thứ nhất là do đảm bảo an ninh năng lượng, nhất là khi nhu cầu điện trong năm 2017-2018 ở khu vực phía Nam rất căng thẳng. Thứ hai là khi các giai đoạn đầu tư đúng tiến độ thì tất cả các bên phải thực hiện đúng cam kết. Như vậy, các dự án lớn như Nhiệt điện Duyên Hải 3 (công suất 1.244 MW), Vĩnh Tân 4 (1.200 MW), Vĩnh Tân 4 mở rộng (600 MW), Nhiệt điện Thái Bình (600 MW)… thuộc diện này.

Tuy nhiên, trước nhiều vấn đề đặt ra với các dự án nhiệt điện hiện nay, việc tiếp tục giảm thêm số lượng các dự án nhiệt điện đã có trong quy hoạch nhưng được đầu tư sau năm 2020 là cần thiết, nhất là ở khu vực ĐBSCL…Ngoài yếu tố ô nhiễm môi trường nặng nề đã được các phương tiện truyền thông cảnh báo, mấu chốt của vấn đềlà suất đầu tư của các dự án nhiệt điện nay không còn có khoảng cách lớn với các dự án NLTT như trước. Hay nói khác đi là nhiệt điện đã đắt hơn nhiều.

Gía đắt, rối quy hoạch cảng và kho nhận than nhiên liệu

Tính bình quân suất đầu tư một MW nhiệt điện hiện dao động từ 1,8-2,2 triệu đô la Mỹ (tùy theo xuất xứ công nghệ, quy mô dự án). Suất đầu tư điện mặt trời từ 1,2- 1,7 triệu đô la Mỹ/MW (tùy vị trí dự án, giá đất tại dự án, năng lượng mặt trời tại đó…). Còn suất đầu tư điện gió từ 1,8-2,5 triệu đô la/MW tùy theo vị trí ở đất liền hay ngoài khơi. Như vậy, khoảng cách về suất đầu tư giữa các dự án nhiệt điện và dự án NLTT không xa nhau.

Việc tiếp tục giảm thêm số lượng các dự án nhiệt điện đã có trong quy hoạch nhưng được đầu tư sau năm 2020 là cần thiết, nhất là ở khu vực ĐBSCL.

Còn theo một tính toán cụ thể hơn, giá thành sản xuất nhiệt điện than sử dụng công nghệ siêu tới hạn (SC) và siêu siêu tới hạn (USSC) giảm ô nhiễm hơn thì cũng mất 7,5-9,2 xu Mỹ/kWh (với giá than nhập khẩu là 60-100 đô la Mỹ/tấn). Giá than hiện hành các nhà máy nhập về đến cổng dự án cũng khoảng gần 100 đô la Mỹ/tấn nên con số này khá sát. Giá thành điện gió là 7,8 xu Mỹ/kWh. Còn giá thành sản xuất điện của nhà máy turbin khí hỗn hợp sử dụng LNG là 9-11,65 xu Mỹ/kWh (nếu giá nhập khẩu LNG từ 10-14 đô la Mỹ/triệu BT).

Đó là chưa kể đến giá thành sản xuất nhiệt điện than chưa tính đúng, tính đủ các chi phí về môi trường như xử lý xỉ than sau khi đốt, mưa axit, hay chi phí xử lý môi trường từ cảng nhập khẩu đến nhà máy. Nếu tính đủ, chắc chắn suất đầu tư của cac dự án nhiệt điện đắt hơn các dự án năng lượng sạch.

Tiếp đến là các dự án nhiệt điện than hiện đang gặp vấn đề về hệ thống cảng biển và kho bãi chứa than. Quy hoạch điện VII trước khi điều chỉnh chưa tính đến hệ thống cảng và kho bãi chứa lượng than nhập khẩu 20-30 triệu tấn/năm này. Khi quy hoạch điện VII được hiệu chỉnh thì các dự án hiện có vẫn tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn và bế tắc về hệ thống cảng trung chuyển.

Theo thông tin của TBKTSG, các dự án nhiệt điện tại Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải (Trà Vinh) hiện đã đầu tư xây dựng ba cảng than và một cảng tổng hợp, các dự án ở Long An đang tính đầu tư xây dựng cảng để tàu đi theo hướng sông Soài Rạp, còn lại hai trung tâm nhiệt điện lớn là Long Phú và Sông Hậu hiện chưa biết chọn cảng trung chuyển than ở đâu. Hai trung tâm nhiệt điện này sử dụng hầu hết than nhập khẩu, dự định đặt cảng tại phía Bắc kênh đào Trà Vinh, tận dụng khu nước trong đê chắn sóng của dự án Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải để bố trí khu bến xuất than nội địa cho tàu trọng tải đến 10.000 DWT. Tuy nhiên, tỉnh Trà Vinh chưa đồng ý đề xuất này do e ngại vấn đề về môi trường. Tại các tỉnh ĐBSCL nay đã không còn vị trí để đặt các cảng trung chuyển cho tàu cỡ lớn nhập than vì còn liên quan đến vận tải hàng hóa khu vực ĐBSCL.

Nếu tỉnh Trà Vinh không thông qua vị trí cho bến trung chuyển mà các chủ đầu tư vẫn xây nhà máy và bến tại nhà máy tiếp nhận than, phải chuyển than từ tàu lớn qua các phương tiện như Sà lan, thì chi phínhập than về nhà máy sẽ đội lên rất lớn và ô nhiễm môi trường do “xẻ tàu” to thành nhiều chuyến tàu nhỏ cũng chưa tính hết được. Tất cả các chi phí này đều được tính vào giá thành sản xuất điện cuối cùng. Do vậy nhiệt điện than sẽ càng đắt, càng ô nhiễm.

Mấu chốt phát triển năng lượng sạch là gía.

Tuy nhiên, tiềm năng về năng lượng tái tạo (NLTT) trên thực tế triển khai được rất ít. Như điện gió mới chỉ khai thác được khoảng 52MW điện mặt trời khoảng 3,5MW, biomass 150 MW trong khi tiềm năng lần lượt là 20.00MW, 4-5kWh/mét khối/ngày (điện mặt trời), 3.000 MW biomass.

Ông Nguyễn Đức Cường, chuyên gia NLTT và phát triển sạch, nói với TBKTSG rằng mấu chốt của sự chậm trễ triển khai các dự án NLTT (một số dự án đã được đăng ký) là giá mua NLTT thấp so với suất đầu tư. Giá mua điện gió theo quy định hiện hành là 7,8 Xu My/kWh tương đương với giá thành sản xuất nên nhà đầu tư lắc đầu, cho dù Có được ưu đãi về thuế nhập khẩu, tiền thuê đất hay phí môi trường.

Tăng ngay giá mua điện theo quy định cho tất cả các dự án thì ngân sách không có. Vậy điểm gặp nhau giữa nhà nước và nhà đầu tư sẽ ở đâu? Theo gợi ý của ông Cường, ví dụ đến năm 2018 Nhà nước cần 200 MW điện gió để cân bằng cung – cầu năng lượng thì đặt ra mục tiêu và đưa đầu bài cho các nhà đầu tư, với giá thành mua điện có thể là 9,8 cent/kWh.

Không phải cứ mua với giá 9,8 cent/kWh là nhà đầu tư có lãi mà trong số này có người có lãi, người hòa vốn (tùy vào Công nghệ, vị trí đặt dự án…) nhưng sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư hơn là cùng nhau “ngồi không” ở mức giá thấp mà không giải quyết được mục tiêu tăng tỷ lệ NLTT lên 9,8% vào năm 2020 sắp đến.

Các nhà máy nhiệt điện có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

Ngày 20-10-2016, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã ban hành chỉ thị về việc tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong ngành.

Kèm theo chỉ thị này là danh sách những dự án, nhà máy được coi là có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường hoặc có những tồn tại trong chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, thuộc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Trong đó, có nhiều dự án, nhà máy nhiệt điện.

Cụ thể; Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 1, Vĩnh Tân 2, Vĩnh Tân 4, Vĩnh Tân 4 mở rộng, Duyên Hải 1, Duyên Hải 3, Duyên Hải 3 mở rộng; Công ty cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh (thuộc tập đoàn Điện lực Việt Nam); Nhà máy Điện Vũng Áng 1 – Công ty Điện lực Dầu khí Hà Tĩnh, Nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1, Thái Bình 2, Sông Hậu 1, Liên hiệp Lọc hóa dầu Nghi Sơn, dự án Nhà máy Xử lý khí Cà Mau (thuộc tập đoàn Dầu khí Việt Nam).

Đối với Các dự án nhiệt điện than, Bộ trưởng Bộ Công Thương yêu cầu chủ đầu tư phải xây dựng và thực hiện quy trình thải tro xỉ nhà máy, yêu cầu đảm bảo không phát tán tro xỉ ra môi trường, hoàn thiện hệ thống quan trắc tự động các thông số phát thải.

Bộ trưởng cũng chỉ thị các tập đoàn, tổng công ty cần kiên quyết từ chối đầu tư các dự án có công nghệ tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường, từng bước đổi mới, cải tiến Công nghệ đối với các nhà máy hiện có, để giảm phát thải, cải thiện môi trường.

(Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn)

Đánh giá bài viết

Share this post


asfasfasfsa
Call Now Button